Giỗ Kafka: 100 năm
“Nếu có nhà văn nào được sinh ra vào đúng ngày ông ta qua đời thì đó chính là Kafka.”
Stuart Mitchner
DI CHÚC CỦA KAFKA
Chiêu D. dịch
[I]
Max thân mến, yêu cầu cuối cùng của tôi: nhật ký, bản thảo, thư từ tôi gửi hay người khác gửi, bức vẽ,... tất cả mọi thứ mà cậu tìm thấy tôi để lại (ở những chỗ như tủ sách, tủ quần áo, bàn làm việc ở nhà hay ở công ty, hoặc bất cứ chỗ nào cậu tình cờ tìm thấy), xin hãy đốt hết, đốt sạch sẽ và đừng đọc chúng, và với bất kỳ bài viết hay bức vẽ nào cậu đang giữ, hoặc cậu có thể đại diện tôi để lấy lại từ người khác, xin cậu cũng hãy làm như vậy. Ai không muốn trả lại thư từ thì ít nhất cậu hãy đảm bảo rằng họ hứa sẽ tự tay đốt chúng.
Thân ái,
Franz Kafka
[II]
Max ơi, lần này có lẽ tôi thực sự không gượng dậy được nữa rồi, sau một tháng ho sốt thế này thì gần như chắc chắn là tôi bị viêm phổi rồi, không phải tôi ngồi dậy viết ra thế này là nó đã ngừng lây lan, dù đúng là việc viết lách có tác dụng nhất định. Nếu điều đó thực sự xảy ra, đây là mong muốn cuối cùng của tôi đối với tất cả những gì tôi đã viết:
Tôi chỉ ghi nhận những thứ tôi viết và đã in thành sách: Judgment (Bản án), Stoker (Người đốt lò), Metamorphosis (Hóa thân), Penal Colony (Ở khu trừng giới), Country Doctor (Một thầy thuốc nông thôn) và truyện ngắn Hunger Artist (Nghệ sĩ nhịn đói). (Một vài bản in Contemplation (Quan sát) có thể được giữ lại, tôi không muốn ai phải phiền phức đem nghiền bỏ chúng, nhưng cũng không muốn được in lại). Khi tôi nói tôi chỉ công nhận 5 cuốn sách và truyện ngắn kia, tôi không có ý rằng tôi mong chúng sẽ được tái bản và truyền lại cho đời sau, mà ngược lại, nếu chúng có thể rơi vào quên lãng hoàn toàn, thì điều đó thực đúng với những mong muốn của tôi. Nhưng vì chúng đã được xuất bản, tôi sẽ không ngăn ai giữ lại chúng, nếu người đó muốn vậy.
Còn lại, mọi thứ khác tôi đã viết (dù được in trên báo, dù ở dạng bản thảo, dù ở dạng thư từ), không có ngoại lệ, và khi đã lấy lại được hoặc có thể lấy lại từ các địa chỉ mà tôi đã bảo cậu (suy cho cùng, cậu biết gần hết chúng rồi, chủ yếu ở chỗ bà Felice, bà Julie (nhũ danh Wohryzek) và bà Milena Pollak thôi, xin nhớ kỹ, đừng quên mất vài cuốn sổ tay mà bà Milena Pollak giữ nhé), tất cả toàn bộ đều phải, và tôi mong sẽ không ai đọc được chúng, (dù nếu cậu muốn ngó qua thì cũng không sao nhưng tôi vẫn mong cậu đừng thì hơn, và trong mọi trường hợp, không ai được phép đọc nhé) - tất cả đều phải được đốt sạch sẽ và tôi muốn cậu làm càng sớm càng tốt
Franz
Max Brod đã tìm thấy hai đoạn di chúc này - đoạn đầu có lẽ được viết vào mùa thu hoặc mùa đông năm 1921, đoạn sau vào ngày 29 tháng 11 năm 1922 - trong đống giấy tờ của Kafka sau khi mất. Chúng ta đều biết Brod đã không làm theo di nguyện của Kafka, và phần đông các học giả cùng độc giả đều tán thành quyết định này của ông. Hai đoạn di chúc này là hai văn bản đầu tiên của Kafka mà Brod công bố sau khi Kafka mất (trên tờ Weltbühne [Sân khấu thế giới] vào ngày 17 tháng 7 năm 1924).
Trước đó, Kafka đã viết ít nhất một di chúc nữa với nội dung có lẽ không khác biệt lắm. Cuối năm 1916, khi Brod hỏi Kafka chuyện lấy lại và hủy đi một vài tài liệu cá nhân nhất định trong trường hợp ông qua đời, Kafka đã trả lời: “Tôi sẽ không làm thế đâu, nhưng để tôi cân nhắc. Nhân tiện, lâu nay tôi vẫn giữ trong cặp một tấm danh thiếp định gửi cho cậu với các hướng dẫn rất đơn giản tương tự (nhưng chỉ đối với các vấn đề tài chính tiền nong các thứ thôi).”
(Dịch từ bản tiếng Anh tác phẩm Is that Kafka?: 99 Finds của Reiner Stach, do Kurt Beals dịch, New Directions xuất bản năm 2017.)
LÁ THƯ CUỐI CÙNG
Chiêu D. dịch
[Gửi tới Julie và Hermann Kafka ở Prague
Kierling (gần Vienna), Viện điều dưỡng Đốc tờ Hoffmann, ngày 2 tháng 6 năm 1924]
Bố mẹ thân yêu, về chuyến thăm mà mấy lần trước bố mẹ đã bảo. Ngày nào con cũng nghĩ về nó, vì nó quan trọng với con lắm. Hẳn sẽ tuyệt vời, vì lâu quá rồi nhà mình không gặp nhau, con không tính đến quãng thời gian mình cùng ở Prague, lúc đó chúng ta làm căn hộ lộn xộn hết cả lên, nhưng vài ngày yên tĩnh bên nhau ở một nơi đẹp đẽ, chỉ có nhà ta, con thậm chí còn không nhớ được lần cuối là lần nào, từng có một lần vài tiếng đồng hồ ở Franzensbad. Và sau đó uống “một cốc bia ngon” với nhau, như bố viết đó, và con hiểu là bố cũng không thích mấy loại rượu vang vừa mới cất của địa phương, về cốc bia, con cũng nhất trí với bố. Nhân tiện, suốt đợt nắng nóng này, con thường nhớ những ngày chúng ta từng thường xuyên uống bia cùng nhau, đã bao nhiêu năm rồi, khi bố tới trường bơi[1] và dẫn con theo cùng.
Những ký ức ấy và nhiều điều khác nữa làm con mong đợi chuyến thăm của bố mẹ, nhưng cũng có nhiều chuyện khác khiến con nản lòng. Trước nhất, con biết có lẽ bố sẽ không thể đến được vì chuyện hộ chiếu rất khó khăn. Tất nhiên điều đó sẽ làm hỏng mục đích chính của chuyến thăm, mà nó còn có nghĩa là mẹ con, dù đi cùng ai, cũng sẽ dành hết sự chú ý cho con, chỉ tập trung vào con, nhưng giờ con vẫn chưa khỏe hẳn, trông con rất tệ. Bố mẹ đã biết những khó khăn hồi con mới tới đây rồi, ở ngay và quanh Vienna này; chúng làm con khá kiệt sức, khiến con sốt mãi và con càng thấy yếu hơn; nói một cách khách quan thì vấn đề thanh quản bất ngờ xuất hiện hồi mới đầu đã khiến con suy sụp nhiều hơn mà lẽ ra không đến mức phải như vậy - chỉ đến bây giờ con mới bắt đầu cố thoát ra khỏi đống bệnh tật này, với sự giúp đỡ của hai người chăm sóc tuyệt vời là Dora và Robert (không có họ thì giờ chẳng biết con đang ở chốn nào nữa!), một sự giúp đỡ tuyệt vời mà ở nơi xa bố mẹ khó có thể hình dung ra được. Giờ con còn có thêm chút vấn đề, chẳng hạn như con bị nhiễm khuẩn đường ruột mấy ngày rồi chưa khỏi hẳn. Kết quả là dù con được chăm sóc tận tình, dù có không khí trong lành và đồ ăn ngon, dù ngày nào con cũng được đi tắm nắng, con vẫn chưa hồi phục hẳn được, xét về tổng thể trên thực tế con thậm chí còn không được như hồi vừa rồi ở Prague. Và nếu bố mẹ biết thêm rằng con chỉ có thể nói thầm, và thậm chí đến cả nói thầm không phải lúc nào con cũng làm được, thì con nghĩ có lẽ hoãn chuyến thăm lại sẽ khiến bố mẹ thấy vui. Mọi thứ đều nên đợi đến thời điểm khởi đầu tốt nhất có thể - hôm trước bác sĩ đã bảo với con rằng ông ấy thấy thanh quản của con có cải thiện rõ rệt, ông ấy nhân từ và rộng lượng, tự lái xe đến đây mỗi tuần một lần mà gần như chẳng đòi hỏi thù lao gì mấy, những lời ông ấy nói là niềm an ủi rất lớn đối với con - và khi nãy con nói mọi thứ đều nên đợi đến thời điểm khởi đầu tốt nhất có thể, nhưng bây giờ thậm chí khởi đầu tốt nhất cũng chẳng có nghĩa lý gì, nếu con không thể cho vị bác sĩ nhân từ rộng lượng ấy, cho những người đến thăm mình thấy, mà nhất là người thăm con lại là bố mẹ, những cải thiện sức khỏe rõ rệt đủ để một người không biết gì về y khoa cũng có thể nhận ra, thì thôi tốt nhất là ta cứ mặc kệ nó. Vậy nên, bố mẹ thân mến, có lẽ tạm thời chúng ta cũng nên để mọi sự cứ yên như vậy đã?
Xin bố mẹ đừng nghĩ rằng bố mẹ phải làm thêm điều gì để con ở đây được quan tâm hơn hay điều trị tốt hơn. Đúng là ông chủ viện điều dưỡng này đã già yếu và đau ốm, ông ấy cũng không thể chăm lo gì nhiều ở đây, và những cuộc chuyện trò của con với bác sĩ phụ tá, một người rất dễ chịu, thì thân tình hơn nhiều so với những chuyện thuốc thang bệnh tật thông thường nhưng bên cạnh những chuyến thăm khám không thường xuyên của bác sĩ điều trị thì điều quan trọng nhất là con có Robert ở đây, cậu ấy luôn theo sát con, và thay vì lo nghĩ cho những kỳ thi của mình, cậu ấy dành hết tâm sức chăm lo cho con, và còn có một bác sĩ trẻ nữa đến đây ba lần một tuần mà con rất tin tưởng (con đã nhờ kiến trúc sư Ehrmann cảm ơn cậu ấy thay con, và cảm ơn cả ông bác sĩ con kể bên trên nữa).
Vì con cảm thấy như thế về chuyến thăm, [ngừng đột ngột, tiếp tục ở trang thư sau]
thậm chí còn không phải đến bằng ô tô, mà đến bằng tàu hoặc xe buýt ba lần một tuần.
[Dora Diamant viết]:
Tôi lấy lá thư từ tay anh ấy. Nó thực sự là một nỗ lực tuyệt vời. Chỉ thêm vài dòng nữa thôi, có vẻ rất quan trọng, theo yêu cầu của anh: [ngừng đột ngột]
[Ottla Kafka viết, bằng bút chì]:
Viết vào thứ Hai
2.6.1924
Mất 3.6.1924
Vì đã quá yếu, Kafka không thể tự tay viết nốt lá thư cuối cùng. Người ta luôn hoài nghi rằng liệu lá thư, được viết trên hai mặt giấy gập đôi này, có từng được gửi đi hay không; nó đã được kẹp vào trong một chiếc phong bì mà bà Julie, mẹ Kafka, viết ở bên ngoài: “Lá thư cuối cùng từ Franz thân yêu của chúng ta.”
“Hai người chăm sóc tuyệt vời” mà Kafka nói đến trong những tuần cuối cùng của cuộc đời là Dora Diamant và cậu sinh viên ngành y, Robert Klopstock. “Vấn đề thanh quản bất ngờ xuất hiện” là chỉ bệnh lao phổi đã lan đến thanh quản của ông và đang phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, bố mẹ ông không biết gì về bệnh trạng nghiêm trọng của Kafka, chỉ có ba người em gái là được thông báo.
(Dịch từ bản tiếng Anh tác phẩm Is that Kafka?: 99 Finds của Reiner Stach, do Kurt Beals dịch, New Directions xuất bản năm 2017.)
MỘ CHÍ
Chiêu D. dịch
Thứ Ba, ngày đầu tiên tháng Sivan năm 5684. Người lẫy lừng có tên ở trên, người thầy và trí hữu Anschel[2] của chúng ta, ký ức về anh sống mãi, là con trai của Ngài Henoch Kafka đáng kính, mong ánh sáng của người luôn sáng rọi. Thân mẫu là bà Yetl. Mong tâm hồn người được an trú trong đời.
Mộ của Kafka, nơi mẹ ông Julie và bố ông Hermann cùng yên nghỉ, nằm tại nghĩa trang New Jewish, quận Straschnitz (Strašnice), Prague. Lễ an táng diễn ra vào ngày 11 tháng 6 năm 1924, tám ngày sau khi Kafka qua đời gần Vienna.
(Dịch từ bản tiếng Anh tác phẩm Is that Kafka?: 99 Finds của Reiner Stach, do Kurt Beals dịch, New Directions xuất bản năm 2017.)
CHUYỆN ĐỜI CHÀNG FRANZ (K.)
Ally L. dịch
1883
Franz Kafka cất tiếng khóc chào đời ở thành Praha ngày 3 THÁNG BẢY. Chàng là con đầu lòng của cụ Hermann Kafka (1852-1931) và vợ Julie, nhũ danh Löwy (1856-1934). Ông bô bà bô chàng là người Do Thái và làm chủ một hiệu buôn đồ xa xỉ. Gia đình chủ yếu nói chuyện với nhau bằng tiếng Đức, nhưng cũng nói tiếng Tiệp Khắc với người hầu trong nhà.
1885 - 1888
Hai em trai chàng ra đời, đều mất từ thuở còn thơ.
1889 - 1892
Ba em gái chàng lần lượt ra đời: Đầu tiên là Gabriele (Elli), tiếp theo là Valerie (Valli), sau cùng là Ottilie (Ottla).
1889 - 1893
Chàng K. theo học tại trường Tiểu học Giáo dục Quốc dân Đức.
1893 - 1901
Chàng K. lên học trường Altstädter Deutsches Gymnasium (Trung học Cổ trấn Đức) và hoàn thành kỳ thi Matura (kỳ thi đầu vào đại học Đức).
1901
Bắt đầu học ngành luật tại Đại học Đức ở Praha.
1902
THÁNG MƯỜI: Kết giao bạn hữu với Max Brod. Bắt đầu một tình bạn chí cốt trọn đời.
1904
Bắt đầu viết bản thảo đầu tiên của truyện ngắn “Miêu tả một cuộc đấu.”
1906
THÁNG SÁU: Nhận bằng tiến sĩ. THÁNG MƯỜI: Bắt đầu đi thực tập một năm chuyên ngành luật tại tòa án dân sự và tòa án hình sự.
1907
Bắt đầu viết bản thảo đầu tiên cho truyện Chuẩn bị cho một đám cưới ở nông thôn. THÁNG MƯỜI: Chàng K. được thuê làm trợ lý ở hãng bảo hiểm Assicurazioni Generali.
1908
THÁNG BA: Lần đầu được xuất bản một số truyện ngắn với tựa đề Quan sát trên tạp chí Hyperion. 30 THÁNG BẢY: Bắt đầu làm việc tại Sở Bảo hiểm Tai nạn Lao động của Vương quốc Bohemia tại Praha.
1909
Những dòng nhật ký sớm nhất còn sót lại. Chàng Franz K. gặp chàng Franz Werfel. THÁNG CHÍN: Chàng K. du hí miền Bắc nước Ý với anh em nhà Max và Otto Brod. Đi xem biểu diễn máy bay mà sau đấy chàng miêu tả lại trong tùy bút “Những chiếc máy bay ở Brescia.” MÙA THU: Viết lại bản thảo truyện ngắn “Miêu tả một cuộc đấu.”
1910
THÁNG MƯỜI: Đi chơi thành Ba Lê với hai anh em Max và Otto Brod.
1911
THÁNG TÁM - CHÍN: Ngao du Thuỵ Sĩ, bắc Ý, và Ba Lê với Max Brod, sau đấy đi nghỉ ở Liệu dưỡng viện Erlenbach ở gần thành Zurich. THÁNG MƯỜI: Ấn tượng sâu sắc với một đoàn kịch Do Thái Đông Âu. Đi xem không biết bao nhiêu lần, lại còn kết bạn với chàng diễn viên Jizchak Löwy. Chàng K. và em rể Karl Hermann cùng nhau mở Nhà máy Amiăng Đầu tiên của Praha.
1912
Viết bản thảo đầu tiên tiểu thuyết Nước Mỹ rồi bỏ đi hết. THÁNG SÁU - BẢY: Đi Leipzig và Weimar với Max Brod. Gặp gỡ hai chủ xuất bản là Kurt Wolff và Ernst Rowohlt và được cổ vũ gửi bản thảo cho họ xem. Ở Weimar, chàng K. phải lòng cô bé Margarethe Kirchner mười bảy tuổi. Sau đó chàng nghỉ tại Liệu dưỡng viện Jungborn, đây là một thị trấn suối khoáng tự nhiên chuyên chăm sóc sức khỏe tọa lạc trong dãy núi Harz gần thành phố Jungborn. THÁNG TÁM: Quen nàng Felice Bauer. THÁNG CHÍN: Bắt đầu viết thư tới tấp gửi nàng Felice Bauer (và được nàng hồi âm nhiệt tình không kém). Viết truyện “Bản án.” Ngày nào cũng tập trung viết lại bản thảo tiểu thuyết Nước Mỹ. THÁNG MƯỜI HAI: Viết truyện vừa “Hóa Thân.” Nhà xuất bản Kurt Wolff ấn hành tập Quan sát dưới dạng sách.
1913
THÁNG GIÊNG: Ngưng viết Nước Mỹ. THÁNG BA: Tái ngộ nàng Felice Bauer lần đầu. THÁNG NĂM: Nhà xuất bản Kurt Wolff xuất bản truyện “Người đốt lò” (chương đầu tiểu thuyết Nước Mỹ). THÁNG SÁU: Truyện “Bản án” đăng tải trên tạp chí thường niên Arkadia do Max Brod biên tập. Kết giao với nhà văn Ernst Weiss. THÁNG CHÍN - MƯỜI: Đi phượt một mình đến thành Viên, Venice, và Hồ Garda. Nghỉ tại Liệu dưỡng viện của Bác sĩ von Hartungen ở Riva. THÁNG MƯỜI MỘT: Sơ kiến nàng Grete Bloch, nàng này ngỏ ý muốn làm trung gian giữa chàng K. và nàng Felice Bauer. Chàng và nàng liền viết thư gửi nhau tới tấp.
1914
MÙNG MỘT THÁNG SÁU: Đính hôn với nàng Felice Bauer. 12 THÁNG BẢY: Trong một cuộc thảo luận căng như dây đàn mà chàng K. mô tả như một “tòa xét xử”, chàng quyết định hủy hôn. Đi Marielyst qua đường Lübeck. 28 THÁNG BẢY: Áo-Hung tuyên chiến với Serbia (Đệ Nhất Thế Chiến nổ ra). THÁNG TÁM: Bắt đầu viết tiểu thuyết Vụ án. THÁNG MƯỜI: Viết truyện “Ở trại trừng giới.” THÁNG MƯỜI HAI: Viết phân đoạn truyện ngắn “Anh giáo làng.”
1915
THÁNG GIÊNG: Bỏ dở tiểu thuyết Vụ án. Gương vỡ lại lành với Felice Bauer. THÁNG TƯ: Sang chơi Hungary. THÁNG BẢY: Nghỉ ở Liệu dưỡng viện Frankenstein gần Rumburg, phía bắc Bohemia. THÁNG MƯỜI: Hóa thân xuất bản thành sách. Carl Sternheim nhận Giải Fontane và chuyển tiền thưởng sang cho chàng K.
1916
THÁNG SÁU: Chàng K. được miễn trừ nghĩa vụ quân sự vì lý do công việc (và trái với nguyện vọng bản thân). THÁNG BẢY: Đi du lịch lần đầu và cũng là lần duy nhất với Felice Bauer ở Marienbad. THÁNG MƯỜI MỘT: Chàng K. đọc “Ở trại trừng giới” trước khán giả Munich (lần diễn đọc duy nhất của chàng ở ngoài phạm vi thành Praha). Bắt đầu viết văn ở một căn nhà nhỏ tại Hẻm Nhà Giả Kim ở Hradčany, mệnh danh Quận Lâu Đài thành Praha. Mùa đông tiếp đó chàng viết bao nhiêu là truyện ngắn và phân đoạn truyện ngắn, bao gồm “Một thầy thuốc nông thôn”, “Chó sói và người Ả Rập”, “Đương khi xây Vạn Lý Trường Thành”, “Trên khán đài.”
1917
THÁNG TƯ: Viết “Báo cáo đọc trước Viện Hàn lâm.” THÁNG BẢY: Đính hôn lần hai với Felice Bauer. MÙA HÈ: Chàng K. bắt đầu học tiếng Do Thái. MÙNG MƯỜI THÁNG TÁM: Xuất huyết phổi. THÁNG CHÍN: Chàng K. xin được nghỉ hưu vì bị chẩn đoán bệnh lao nhưng không ai cho. Chuyển về sống với em gái Ottla lúc đó đang săn sóc trang trại nhỏ ở Zürau miền Tây Bắc Bohemia. THÁNG MƯỜI: Bắt đầu viết cách ngôn. CUỐI THÁNG MƯỜI HAI: Chia tay Felice Bauer lần cuối.
1918
THÁNG NĂM: Hết nghỉ ốm, đi làm lại. 30 THÁNG MƯỜI: Nền quân chủ Áo-Hung sụp đổ. THÁNG MƯỜI MỘT: Thành lập nước Cộng Hòa Tiệp Khắc. Ngôn ngữ chính thức ở Praha và ở Sở Bảo hiểm của chàng giờ đây đổi thành tiếng Tiệp Khắc. Chàng K. nghỉ dưỡng tại Schelesen (Želízy) nhờ lương trợ cấp tới THÁNG BA (có gián đoạn đôi chỗ).
1919
THÁNG MỘT: Quen cô Julie Wohryzek. THÁNG NĂM: Nhà xuất bản Kurt Wolff ra sách Ở trại trừng giới. MÙA HÈ: Đính hôn với cô Julie Wohryzek. THÁNG MƯỜI MỘT: Ở Schelesen, chàng K. viết một bức thư dài gửi cha, nhưng thư không bao giờ tới tay người nhận.
1920
THÁNG BA: Được thăng chức lên Thư ký Sở Bảo hiểm. THÁNG TƯ: Chàng K. đi sang Meran điều trị ba tháng. Bắt đầu viết thư gửi nàng Milena Jesenská. THÁNG NĂM: Nhà xuất bản Kurt Wolff xuất bản Tuyển tập truyện ngắn: Một thầy thuốc nông thôn. THÁNG BẢY: Sang thành Viên ở chơi mấy hôm với Milena. Về đến Praha liền hủy hôn ngay và luôn với cô Julie Wohryzek. THÁNG MƯỜI HAI: Bắt đầu liệu trình tám tháng ở Liệu dưỡng viện Matliary trên Dãy núi High Tatra ở Slovakia.
1921
THÁNG HAI: Kết giao bạn hữu với cậu sinh viên y khoa Robert Klopstock. THÁNG TÁM: Chàng K. đi làm lần cuối; làm được tám tuần chàng lại phải nghỉ ốm.
1922
THÁNG GIÊNG: Bắt đầu viết tiểu thuyết Lâu đài. THÁNG HAI: Đi nghỉ ở khu nghỉ dưỡng suối nước khoáng ở Spindlermühle nằm trên Dãy Đại Sơn Krkonoše. MÙA XUÂN: Viết truyện “Một nghệ sĩ nhịn đói.” THÁNG SÁU: Viết truyện “Những điều tra của một con chó.” Chàng K. đi xuống Planá ở miền Nam Bohemia khoảng ba tháng. MÙNG MỘT THÁNG BẢY: “Tạm thời” nghỉ hưu. THÁNG TÁM: Bỏ dở tiểu thuyết Lâu đài. THÁNG MƯỜI: Xuất bản sách Một nghệ sĩ nhịn đói.
1923
THÁNG SÁU: Những dòng nhật ký cuối cùng còn sót lại. THÁNG BẢY: Chàng K. đi sang Müritz bên bờ Biển Baltic tầm bốn tuần, tại đây chàng quen nàng Dora Diamant. THÁNG TÁM: Đi Schelesen bốn tuần. THÁNG CHÍN: Chàng K. chuyển sang Berlin ở luôn với nàng Dora Diamant. Hai người (và cả thành phố) khốn khổ vì tình trạng siêu lạm phát. MÙA THU: Viết truyện “Một người phụ nữ bé nhỏ.” MÙA ĐÔNG: Viết truyện “Cái hang.” Phá hết bao nhiêu là bản thảo. Sức khỏe tụt dốc không phanh.
1924
THÁNG BA: Trở về Praha một chút. Viết truyện “Josephine, nữ ca sĩ hay dân chuột.” THÁNG TƯ: Nghỉ ở Liệu dưỡng viện Rừng Viên ở Ortmann bang Hạ Áo. Bị chẩn đoán bệnh lao thanh quản. Có nàng Dora Diamant bầu bạn, chàng K. được đưa đi đầu tiên là đến Bệnh viện Đại học ở Viên, rồi đến Liệu dưỡng viện của Bác sĩ Hoffmann ở Kierling gần Klosterneuburg. Dora Diamant và Robert Klopstock chăm sóc chàng K. lúc này đã rất đau đớn và gần như không thể nào nuốt nổi thứ gì nữa. MÙNG BA THÁNG SÁU: Chàng K. mất tầm buổi trưa. 11 THÁNG SÁU: Thi thể chàng K. được mai táng tại nghĩa trang Do Thái quận Straschnitz (Strašnice) thành Praha.
(Dịch từ bản tiếng Anh tác phẩm Is that Kafka?: 99 Finds của Reiner Stach, do Kurt Beals dịch, New Directions xuất bản năm 2017.)
NÀNG MILENA CÁO PHÓ CHÀNG KAFKA
Ally L. dịch
Franz Kafka. Ngày hôm kia, Tiến sĩ Franz Kafka, một nhà văn người Đức sống ở Prague, đã mất tại Liệu dưỡng viện Kierling ở Klosterneuburg, gần Viên. Chỉ có vài người ở đây biết anh, vì anh là một kẻ ẩn dật, một nhà thông thái đã chùn chân trước sự sống. Anh đã vật lộn với căn bệnh phổi hàng năm trời, và mặc dù có chạy chữa, anh cũng đã chủ động dung túng và nuôi dưỡng nó trong tâm tưởng. “Khi linh hồn và trái tim không còn khả năng gánh vác nổi sức nặng, thì đến lượt những lá phổi phải san sẻ một nửa, như thế thì gánh nặng mới được phân bố đều ra phần nào”, anh từng viết thế trong một lá thư, và căn bệnh của anh về bản chất là như vậy. Nó đem đến cho anh một sự nhạy cảm mấp mé diệu kỳ, và một trí tuệ sáng suốt không thỏa hiệp cơ hồ đáng sợ; mặt khác, người đàn ông này, chính anh đã đem toàn bộ sức nặng của những đau đớn tinh thần đè lên căn bệnh của mình. Anh bẽn lẽn, lo lắng, dịu dàng, và tốt bụng, nhưng những quyển sách anh viết ra đều khủng khiếp và đau đớn. Anh nhìn thấy một thế giới toàn những con quỷ vô hình gây mối thù địch và huỷ diệt hoàn toàn những con người không tự bảo vệ được mình. Anh quá minh mẫn, quá thông tuệ để sống, và quá yếu ớt để đánh trả: nhưng sự yếu ớt của anh là cái yếu của những con người cao thượng và đẹp đẽ, những người không có khả năng kháng lại nỗi sợ, chống lại những nỗi hiểu lầm, sự bất nhân và ngụy tri thức, những người ý thức được sự bất lực của bản thân ngay từ phút giây đầu tiên, những người quy phục điều ấy, và khi làm thế, họ khiến kẻ thắng trận phải nhục nhã xấu hổ. Anh hiểu nhân thế theo cái cách mà một người độc hành mới có khả năng thấu hiểu, một người sở hữu những dây thần kinh nhạy cảm quá đỗi đến mức có thể nhìn thấu tâm can người khác chỉ nhờ một biểu cảm đơn giản trên gương mặt. Hiểu biết của anh về thế giới vốn phi thường và sâu sắc. Bản thân anh cũng là một thế giới đậm sâu và phi phàm. Anh đã viết những quyển sách quan trọng nhất của nền văn chương Đức hiện đại. Trong hình thức phi giáo điều, chúng kể về cuộc chiến của các thế hệ trong thời đại chúng ta. Chúng sở hữu một sự trần trụi chân chính trông thật là tự nhiên, kể cả khi chúng giao tiếp với ta bằng những biểu tượng. Chúng có sự mỉa mai khô khốc và cá tính nhạy cảm mang tầm nhìn xa trông rộng của một người đàn ông đã nhìn ngắm thế giới với một sự thông tuệ ngút ngàn đến nỗi anh không tài nào chịu nổi được nữa và đã phải tìm đến cái chết; bởi anh không muốn phải nhượng bộ như bao kẻ khác, để cứu rỗi bản thân mình bằng sự giúp đỡ của những giả trá trong tri thức hay vô thức, dù chúng có cao thượng đến đâu. Tiến sĩ Franz Kafka đã viết đoạn trích “Người đốt lò” (dịch ra tiếng Tiệp Khắc và xuất bản trong quyển “Červen” của Neumann), chương đầu tiên của một tiểu thuyết rất hay mà chưa được xuất bản. Truyện “Bản án”, kể về xung đột giữa hai thế hệ. “Hóa Thân”, quyển sách có sức mạnh nhất văn học Đức hiện đại. Truyện “Ở trại trừng giới” và những tản văn “Quan sát” và “Một thầy thuốc nông thôn.” Tiểu thuyết cuối cùng, “Trước Cửa Pháp Luật”, đã được hoàn thành dưới dạng bản thảo và chuẩn bị xuất bản nhiều năm rồi; quyển này thuộc về nhóm những quyển sách dường như thấu hiểu hết vạn sự trên đời một cách hoàn toàn và đầy đủ đến nỗi mọi phê bình đều là thừa thãi. Tất cả tác phẩm của anh miêu tả sự kinh hoàng của những hiểu lầm kỳ bí và tội lỗi không lỗi sai trong đời sống con người. Anh là một người đàn ông và một nghệ thuật gia sở hữu một lương tâm thấu đáo đến mức anh luôn cảnh giác đề phòng kể cả khi những kẻ khác, những kẻ điếc, đã thấy mình yên vị và an toàn. Milena Jesenská.
Ngay sau khi Kafka mất ngày mùng 3 tháng 6 năm 1924, nhà báo - dịch giả Milena Jesenská được mời viết cáo phó chàng trên tờ nhật trình tiếng Tiệp Khắc Národní Listy ở Prague - hóa ra tòa soạn biết về mối quan hệ đặc biệt giữa nàng và Kafka. Bài viết của nàng được đăng báo ngày mùng Sáu tháng Sáu trên mục “Tiêu điểm Hằng ngày.” Các độc giả tiếng Đức không biết đến sự tồn tại của cáo phó này cho đến năm 1962, khi tạp chí Forum ở Viên cho đăng một bản dịch tiếng Đức.
Vì Jesenská chỉ có vài tiếng để hoàn thành cáo phó, bài viết phản ánh những gì nàng biết về sự nghiệp văn chương của Kafka tính tới thời điểm đó. Ví dụ, truyện “Người đốt lò” mà chính nàng đã dịch ra tiếng Tiệp, chính là chương đầu tiên của tiểu thuyết Der Verschollene (được biết đến với tựa tiếng Anh là Amerika, The Man Who Disappeared, hay tiếng Việt là Nước Mỹ: Kẻ mất tích). Tiểu thuyết mà nàng gọi là Trước cửa pháp luật chính là Vụ án; rõ ràng lúc ấy nàng đang nghĩ đến truyện ngụ ngôn “Trước cửa pháp luật” nằm trong chính tiểu thuyết Vụ án. Nàng biết đến truyện ngụ ngôn này vì nó đã được dịch sang tiếng Tiệp, nhưng có lẽ chưa bao giờ nhìn thấy bản thảo tiểu thuyết Vụ án vì nó đã nằm trong hộc bàn của Max Brod hàng năm trời.
Jesenská cũng đã phải dẫn lại những lời Kafka viết trong thư về nguồn gốc tâm linh của căn bệnh phổi từ trí nhớ chỗ được chỗ mất. Sự thật là trong những lá thư chàng viết gửi nàng bốn năm trước đó: “[Anh] chỉ đang nghĩ về cách giải thích anh tự chế ra cho căn bệnh của mình khi ấy, và có thể áp dụng được cho nhiều trường hợp. Phát bệnh chính là do bộ não không còn khả năng nào chịu đựng nổi những niềm đau và bi ai nó đã bị bắt hứng lấy. Nó nói rằng: ‘Ta chịu thua rồi; nhưng nếu còn ai có trọng trách ôm đồm tất cả mọi thứ, hãy để kẻ ấy gánh vác phần việc của ta, và như thế thì mới có thể cố thêm được một chút nữa.’ Hai lá phổi đã hưởng ứng lời kêu gọi ấy; sau tất cả thì chúng cũng chẳng có gì nhiều để mất. Những thương lượng đàm phán giữa phổi và não, những chuyện đã xảy ra mà anh không được biết, có lẽ đã tồi tệ lắm.”
(Dịch từ bản tiếng Anh tác phẩm Is that Kafka?: 99 Finds của Reiner Stach, do Kurt Beals dịch, New Directions xuất bản năm 2017.)
Tự xử:
VỤ ÁN và TRẠI LAO CẢI[3]
Quang L. dịch
Ngay cả trên ghế bị cáo, được nghe nói về chính mình vẫn luôn là một điều thú vị.
Albert Camus, NGƯỜI DƯNG[4]
Vào một chiều thứ Sáu, ngày 29 tháng 12 năm 1899, một gã làm công nhật thất nghiệp bước vào văn phòng của Sở Bảo hiểm Tai nạn Lao động Praha đòi hỗ trợ tài chính. Sau khi xét sơ sơ sự vụ, gã bị từ chối. Gã liền lớn tiếng lăng mạ các quan chức, quăng mấy cái ghế khắp phòng, và khi các nhân viên văn phòng chạy tới do nghe tiếng ồn ào bất thường, gã rút dao trong túi ra. Người ta phải gọi một cảnh sát đến, và chỉ khi đó mọi người mới hợp lực giật được vũ khí từ tay gã đàn ông trong cơn thịnh nộ. Gã được chuyển đến bộ phận an ninh của sở cảnh sát để ghi lại các thông tin cá nhân. Gã đàn ông đó là Joseph Kafka, người làng Rotoř miền Đông Bohemia. Vì ngày đó chưa có luật báo chí nên câu chuyện đã được báo chí đăng tải với đầy đủ tên họ. Trong hoàn cảnh hiện nay thì gã sẽ được gọi là “Joseph K.”: một nhân vật trong mục tin tức địa phương.
Khoảng mười năm sau đó, nhân viên bảo hiểm Franz Kafka nói với bạn mình là Max Brod: “Những con người này thật khiêm nhường. Họ đến chỗ chúng ta xin xỏ. Thay vì xông vào đập nát bét mọi thứ thì họ lại làm đơn xin xỏ.” Sếp của Kafka, ông Marschner, lẽ ra phải biết rõ hơn, bởi vì ông ta là người xử lý các vụ việc của Sở Bảo hiểm hồi đó và có thể đã chứng kiến vụ việc. Có lẽ về sau Kafka mới biết đến chuyện này. Nó hẳn đã khiến ông xúc động, có lẽ đã khiến bạn bè ông thích thú, và việc cái gã thô lỗ nọ trùng tên với ông (và biết đâu lại có họ hàng xa) và giống cả tên vị hoàng đế đang trị vì, chỉ khiến mọi thứ trở nên khôi hài hơn.
Josef K.: Cái tên viết tắt xuất hiện đầu tiên vào ngày 29 tháng 7 năm 1914, chỉ một ngày sau khi Kafka quyết định “tự cứu” mình bằng cách trở thành nhà văn. Đó cũng lại là một câu chuyện cha-con bật lên trong tâm trí ông mà nhân vật chính thoạt tiên mang tên “Hans Gorre.” Nhưng sau đó Kafka lại khoái ý tưởng thay thế tên đó bằng một mật danh vừa lộ liễu mà cũng vừa kín đáo. Ông biết K. nghĩa là gì. Còn người đọc có thể đoán ra.
Chúng ta không biết liệu trước khi Kafka đưa cái hình nộm này của chính mình vào một vụ án mệt mỏi có thực hiện thêm những thí nghiệm khác với nó không. Trong cuốn “Nhật ký số chín” mà ông dùng để mở đầu cuốn tiểu thuyết bị khuyết một số trang: những nỗ lực sáng tác từ những ngày đầu tiên của nỗi cô đơn mới nửa khát khao nửa gượng ép ở nhà em gái mình. Mãi đến khoảng ngày 10 tháng 8 - như những tờ giấy còn sót lại cho thấy - Kafka mới nảy ra ý tưởng mang tính quyết định. Như thường lệ, ông gạch ngang một vạch ngắn để đánh dấu sự khởi đầu của một nỗ lực mới, rồi viết một câu lạ lẫm: “Chắc hẳn kẻ nào đó đã vu khống khiến Josef K. bị bắt vào buổi sáng hôm đó, dù anh ta chẳng làm gì nên tội.”
Bị bắt[5]? Đó là câu chữ rõ ràng trong bản thảo. Nhưng khái niệm này gây lầm lẫn, như Kafka hẳn đã nhận ra ngay. “Bắt” là một hành vi trong chiến tranh, ngày nay người ta đọc về nó trên báo mỗi ngày, và thế là chiến tranh đã thấm vào những lời đầu tiên trong cuốn tiểu thuyết của ông. Nhưng trong thời bình - và trong VỤ ÁN rõ ràng là thời bình - hành vi “bắt” thực sự chỉ có thể xuất hiện trong trò chơi con nít hoặc trong ác mộng. Ông phải sửa chữ ấy, vì chắc chắn đó không phải là một giấc mộng mà ông muốn miêu tả, hệt như khi viết HÓA THÂN[6]. Hôm sau ông tìm ra giải pháp. Hai nét bút là đủ để lái cuốn tiểu thuyết sang hướng khác. Và thế là một trong những “câu mở đầu” nổi tiếng nhất trong văn chương trường thiên tiểu thuyết ra đời: “Chắc hẳn kẻ nào đó đã vu khống khiến Josef K. bị tống giam vào buổi sáng hôm đó, dù anh ta chẳng làm gì nên tội.”
VỤ ÁN của Kafka là một con quái vật. Trong đó không có gì là bình thường, không có gì đơn giản. Bất kể ta xét đến lịch sử ra đời, bản thảo, hình thức, nội dung sự việc hay cách đoán định cuốn tiểu thuyết: kết luận vẫn luôn là một. Nhìn đâu cũng thấy u ám.
Max Brod cũng là người đầu tiên cảm nhận được điều này, cũng là người được Kafka liên tục đọc cho nghe vài trang và rốt cục đã giật lấy bản thảo để cứu nó khỏi sự hủy diệt nhãn tiền. VỤ ÁN là một tác phẩm để đời và do đó có khả năng làm cho hào quang văn học của bạn ông rực lên như một siêu tân tinh; Brod không hề nghi ngờ gì điều đó. Nhưng cuối cùng thứ ông cầm trên tay là 161 tờ giấy rời, hầu hết được viết cả hai mặt, xé ra từ nhiều cuốn sổ khác nhau. Kafka đã sắp xếp những trang này theo một thứ tự tạm bợ bằng cách xếp thành những tệp nhỏ có thể đoán được là “chương”, với một trang bìa và một nhan đề tạm thời. Tuy nhiên có những “tệp” chỉ bao gồm một tờ duy nhất, trong khi người ta ngờ rằng những “tệp” khác lại chứa nhiều hơn một chương. Kafka không nói ông coi phần nào là hoàn chỉnh, cũng không đánh số chúng. Và thế là Brod phải đối mặt với một mớ hỗn tạp các chương đã hoàn thành, gần như hoàn thành, chưa hoàn thành và mới bắt đầu, và ông sẽ phải tự mình xếp theo thứ tự, nếu định tạo ra một cuốn sách từ đó. Tất nhiên Brod có đủ dịp hỏi chính tác giả về điều này trong nhiều năm, nhưng ông chẳng dại. Ông quá mừng khi kho báu này được cất giữ an toàn trong ngăn kéo của mình, vì vậy ông ta chỉ tạo áp lực cho Kafka theo cách quen thuộc của mình bằng cách nói ra mồm về một cuốn tiểu thuyết “đã hoàn thành” và thậm chí có lần dọa sẽ “tự tay hoàn chỉnh đến cùng” cuốn VỤ ÁN. Giả sử Kafka đoán được Brod nói nghiêm túc, chắc chắn ông đã đòi lại các tệp giấy VỤ ÁN của mình.
Brod là một nhà báo khôn lỏi, nhưng không có công cụ cũng như sự nghiêm cẩn của một nhà ngữ văn được đào tạo bài bản. Ông không hề đắn đo khi gạch bỏ những đoạn tốc ký của Kafka và ghi lại phiên bản đã được chính mình biên tập trên cùng một trang. Ông chấp nhận mọi phương tiện để đánh lạc hướng những độc giả cần được thuyết phục về thiên tài của Kafka khỏi trạng thái dang dở của tác phẩm; ông thêm chấm thêm phẩy, thống nhất tên họ, thậm chí hoán đổi cả câu để đẽo gọt cho tròn một chương chưa hoàn tất. Những mẩu rời rạc bị ông vứt bỏ hoặc xếp vào phần phụ lục của những lần tái bản sau; phần còn lại ông sắp xếp theo cảm tính. Rốt cục, chính cách làm trần tục ấy đã cho ra đời văn bản cuối cùng mà các thế hệ nhà chú giải say sưa nghiền ngẫm như thể nó là một sự mặc khải.
Ngày nay thì ai cũng được thoải mái đọc những trang gốc quý giá được chụp lại, qua đó dễ nhận ra rằng Brod đã làm rất tốt ở điều kiện khó có thể bất lợi hơn. Kỳ vọng của ông là đưa tác phẩm để đời của Kafka đến với công chúng càng sớm càng tốt sau khi Kafka qua đời, và ông đã đạt được mục đích này chỉ sau chín tháng. Brod không thể trả lời câu hỏi, liệu chính tác giả sẽ sắp xếp các cấu phần và nối chúng lại với nhau ra sao, và dù có sự trợ lực của phương pháp ngữ văn biên tập cao cường, cho đến nay vẫn chưa ai đưa ra được một giải pháp hoàn toàn thỏa đáng. Với bản thảo này, đó là một căn bệnh vô phương cứu chữa. Và vì thế chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài hy vọng vào một mục lục do chính tay Kafka viết ra mà một ngày nào đó sẽ được tìm thấy trên một tầng áp mái bị lãng quên nào đó ở Praha...
Giả sử Kafka có ác ý chơi khó tối đa các biên tập viên tương lai của mình thì ông cũng khó mà làm điều đó một cách nham hiểm hơn. Trạng thái hỗn độn của các bản thảo - vốn đã dẫn đến những tranh cãi kéo dài hàng thập kỷ giữa các chuyên gia trong ngành - không liên quan gì đến thói “úp úp mở mở” kinh niên của Kafka. Nghe thì có vẻ nghịch lý, song tất cả những nghịch cảnh ấy là hệ quả của một quyết tâm hoàn toàn thực dụng mà theo đó ông không có ý gì khác ngoài việc gò việc viết lách của mình vào kỷ luật. Ông từng nát óc tại sao mình chưa hoàn thành phần cuối của KẺ MẤT TÍCH[7], do đó lần này ông muốn làm khác đi và tốt hơn. Ước muốn lôi ra một cách đầy khoái cảm những hình ảnh và cảnh trí từ nội tâm mà không bị gián đoạn hay nhiễu loạn, tương tự như khi đẻ một sinh thể sống, là bất khả thi, chừng nào những hình ảnh ấy bung ra khỏi phạm vi một short story và phát triển thành một vũ trụ độc lập. Thể chất con người có giới hạn của nó: ông thường xuyên cảm nhận được nó, và bây giờ ông bắt đầu chấp nhận nó. Tiểu thuyết gia cũng có lúc phải ngủ, và dù có ngồi dưới tầng hầm, sau những bức tường kiên cố, ông cũng không thể lờ đi cơ thể xập xệ của mình, lờ đi cuộc đời, cũng chính là sự nhiễu loạn vậy.
Làm việc đều đặn hơn: đây là yêu cầu cơ bản mà Brod đã nhiều năm cố gắng khuyến cáo ông. Nhưng Kafka cảm thấy không thể áp đặt tính liên tục và nhịp điệu thường nhật vào công việc viết lách của mình. Nếu không có tiếng động hoặc tia sáng nào lọt qua ô cửa nội tâm thì tốt hơn hết là buông bỏ và hôm sau thử lại lần nữa. Nếu không có tính kiên nhẫn ấy, ta sẽ có nguy cơ phá hỏng tác phẩm đẹp đẽ nhất chỉ vì những “cấu trúc” bên ngoài. Chẳng phải quá trình viết RICHARD VÀ SAMUEL[8] mấy năm trước đã chứng minh điều đó rồi sao: nó hoàn toàn thất bại. Ông rùng mình nhớ lại cái tác phẩm viết chung đó đã được thực hiện theo thời gian biểu mà rốt cục Brod dằn dỗi buông tay.
Tuy nhiên, VỤ ÁN đã mở ra những khả năng kỹ thuật mới mà chưa một người bạn nào của ông từng nghĩ tới. Kafka muốn mô tả một phiên tòa thực sự, với tất cả thủ tục và quy trình pháp lý, và ông muốn mô tả tác động của vụ án ấy đối với một bị cáo có cuộc đời bình dị với những mối quan hệ hạn hẹp trong cuộc sống: bà chủ nhà, hàng xóm, người tình, mẹ, đồng nghiệp, cấp trên, khách hàng, luật sư, tư vấn viên. Có nhất thiết phải tiếp tục mò mẫm đi qua số phận của người này theo trình tự thời gian và tuyến tính, như Kafka đã thực hiện trong KẺ MẤT TÍCH? Chẳng phải cũng có các chiến lược khả thi khác sao? Chắc chắn là, chừng nào sau mỗi góc phố có một chuyện bất ngờ chờ nhân vật thì tác giả không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đồng hành với anh ta và luôn tiếp tục công việc còn dang dở. Ở đó hoặc không nơi nào cả. Bởi vì tác giả phải thiết lập những điểm bẻ ghi mà anh ta chỉ biết đến sự tồn tại của chúng ở đúng thời điểm chúng xuất hiện giữa quầng sáng trong cảnh trí tưởng tượng của mình. Nhưng góc nhìn này rất hẹp, nên nhiệm vụ của anh vĩnh viễn không đổi: chuyển từ câu cuối cùng của đêm qua sang câu đầu tiên của ngày mới.
Nhưng VỤ ÁN thì khác, nó là một cỗ máy đồng hồ có cơ chế nằm trong ánh sáng đầy đủ của ý thức. Nó có một khởi đầu mà ở đó tia sét cáo trạng phải giáng xuống ở một dạng thức nào đó, và nó có một kết thúc, mà kết thúc đó chỉ có thể là việc thi hành án quyết. Điều này tạo ra một khuôn khổ và một chuỗi các cảnh trí được kết nối lỏng lẻo, buộc phải phát sinh từ ý tưởng tổng thể. Cái mẹo hiển nhiên mà Kafka phải áp dụng là chỉ thể hiện cảnh trí sống động nhất đang diễn ra trong tâm trí mình. Lúc thì ông viết ở cuốn sổ này, lúc thì ở cuốn khác. Nếu không tìm được cuốn sổ trống nào để đi tiếp, ông lật một cuốn đã dùng rồi và viết lên đó từ trang cuối. Và vì phần mở bài và phần kết của cuốn tiểu thuyết là những trụ cột đã có dáng vẻ rõ ràng để toàn bộ ngôi nhà tựa vào, nên ông viết những chương này trước tiên và thậm chí đã có thể viết cùng một lúc.
Qua đó Kafka đã đảm bảo hoạt động chủ yếu trong một khu vực hạn chế, và chắc chắn là các bạn Kafka đã tán thưởng quyết tâm của ông nhằm xử lý những khó khăn kỹ thuật trong việc viết lách, thay vì chỉ mơ mộng về những điều kiện lý tưởng. Có lẽ họ không hình dung được rằng Kafka - vốn từ nhiều tháng nay có vẻ bồn chồn, kiệt quệ và đuối sức trong mọi vấn đề thực tế - chính lúc này đã mục sở thị những hoa trái mà ông hằng mong đợi. Sự tập trung, cường độ mà ông đã chờ đợi từ hơn một năm nay, đột nhiên hiện lên. Bây giờ là lúc vung cả hai tay ra gặt hái một cách khẩn trương.
“Nhìn từ góc độ văn chương, số phận của tôi rất đơn giản. Ý thức thể hiện đời sống nội tâm mộng mơ của tôi đã đẩy mọi thứ khác qua một bên và nó đã quắt queo đi một cách khủng khiếp và không ngừng quắt queo tiếp. Không có gì khác có thể làm tôi hài lòng được. Nhưng bây giờ nguồn lực của tôi dành cho sự thể hiện đó hoàn toàn không thể lường trước được, có thể nó đã vĩnh viễn biến mất, có thể nó sẽ ập lại với tôi lần nữa, nhưng điều kiện sống của tôi không thuận lợi cho nó. Vì vậy tôi chao đảo, tôi không ngừng bay lên đỉnh núi, nhưng tôi không thể trụ lại ở đó trong giây lát. Những người khác cũng chao đảo chứ, nhưng ở những triền núi thấp hơn, với nguồn lực dồi dào hơn; nếu họ sắp rơi, họ có người thân đi bên cạnh chỉ để đỡ họ lúc ngã. Nhưng tôi chao đảo trên cao kia, chỉ tiếc là không có Thần chết, mà chỉ là sự khổ ải vĩnh viễn lúc sắp lìa trần.”
Trên đây là một trong những đoạn nổi tiếng nhất, được trích dẫn nhiều nhất từ nhật ký của Kafka. Nó được coi là minh chứng của sự dằn vặt vì nghi ngờ bản thân, thậm chí như một lời giã biệt với cuộc sống giờ đây đã hoàn toàn “bị đẩy qua một bên” sau khi chia tay Felice[9]. Trên thực tế, đó là một trong những cách điệu hóa mạnh mẽ nhất về sự tồn tại của chính Kafka mà chúng ta được biết, có thể so sánh về tính thống thiết của nó với lời cầu khấn một thế giới nội tâm vô hạn trong những bức thư gửi Felice, lời cầu khấn được phát ra, tất nhiên, khi cuộc hôn nhân càng xích lại gần hơn. Nhưng ở đây Kafka tự nhủ: ông nói về đỉnh núi mà ông đã bay tới và về vùng chết mà ở đó chỉ mình ông nán lại được. Và ông sẽ không nói về điều này nếu không nhìn thấy đỉnh cao trước mặt. Ông sẽ nán lại đó. Và chỉ vài ngày sau, ngay khi đặt những bước chân đầu tiên vào những vùng khắc nghiệt của thế giới VỤ ÁN, ông không còn nghi ngờ gì về điều đó nữa.
“Tôi đã viết được vài ngày và hy vọng duy trì được như vậy. Hôm nay tôi không hoàn toàn ẩn náu và đắm chìm trong công việc như hai năm trước đây, ít nhất tôi cũng có một ý nghĩa, cuộc sống độc thân đều đặn, trống rỗng, điên rồ của tôi có lý do chính đáng. Tôi lại có thể đối thoại với chính mình một lần nữa và không nhìn chằm chằm vào sự trống rỗng tuyệt đối. Đây là cách duy nhất để tôi khá lên.”
Kafka đang ở giai đoạn đầu của giai đoạn sáng tạo hiệu quả nhất trong đời mình. Chúng ta hãy thử đoán nguồn nhiên liệu đột ngột đó từ đâu đến: đó chính là lượng năng lượng mà cuộc chiến tâm lý vì hôn nhân đã ngốn mất trong nhiều tháng, nhiều năm. Nó giống như bức màn được kéo ra. Sân khấu bên trong, đã từ lâu đắm mình trong ánh sáng nhập nhoạng, bừng sáng như dưới ánh điện. Những nhân vật hiện ra, cảnh trí, phong cảnh, hiển hiện rõ rệt như trong cơn mê sảng. Lúc đầu nó khiến ông choáng ngợp, ông viết ra những câu, những cảnh nhỏ lấp lánh và mờ ảo. Nhưng lát sau Kafka trở thành đạo diễn những giấc mơ đó, ông giành quyền điều khiển, nắm chặt quả đấm, cố gắng hết lần này đến lần khác để “thúc đẩy” chính mình, như thể ông là giám đốc nhà hát của chính mình: “Tôi biết rằng tôi không được phép nhượng bộ, nếu tôi muốn vượt qua những khổ ải tối thiểu của việc viết lách, vốn đã bị kìm hãm trong suốt quãng đời còn lại của tôi, để đến được với sự tự do lớn hơn có lẽ đang chờ đợi tôi.”
(Dịch từ bản tiếng Đức Kafka: Die Jahre der Entscheidungen của Reiner Stach, do NXB S. Fischer xuất bản năm 2002.)
FRANZ KAFKA ĐÃ ĐƯỢC SÙNG BÁI Ở MỸ THỜI CHIẾN TRANH LẠNH NHƯ THẾ NÀO
Brian K. Goodman truy tìm nguồn gốc của thuật ngữ “Kafkasque”
T. dịch
Mặc dù Franz Kafka qua đời từ năm 1924, tác phẩm của ông vẫn mang đến cho các cây bút và trí thức nước Mỹ thời Chiến tranh lạnh một bộ từ vựng văn chương để hình dung cuộc sống sau Bức màn sắt. Sau Thế chiến thứ hai, một làn sóng dịch thuật, phát hành, phê bình các tác phẩm của Kafka đã càn quét thế giới các nước nói tiếng Anh. Giờ đây nhìn lại có thể dễ dàng hiểu được điều gì đã khích động cho xu thế ấy.
Trong công trình nghiên cứu của mình về văn chương và tư tưởng trong giai đoạn giữa thế kỷ hai mươi, Mark Grief đã viết rằng tác phẩm của Kafka “dường như chỉ ra, một cách thật hữu dụng và chuẩn xác về mặt địa lý, hoàn cảnh của cá nhân dưới một đường kẻ liên tục các nhà toàn trị - đầu tiên là Hitler ở Tây Âu, giờ thì đến Stalin ở phía Đông - với Kafka, ở Prague, Tiệp Khắc, nằm ngay nơi ranh giới giữa hai bên.” Vị thế trung gian chẳng mấy dễ chịu này và hình ảnh lạc thời của Kafka như một nhà văn lơ lửng giữa hai thế giới “toàn trị” đáng ra phải giúp ông trở thành nhân vật vắng mặt quan trọng nhất trong lịch sử trao đổi văn hóa giữa các nhà văn Mỹ và các nhà văn Czech bất đồng chính kiến trong thời Chiến tranh lạnh. Nhưng giống như việc Kafka chẳng phải là nhà tiên tri, vị thế nổi bật của ông trong thời Chiến tranh lạnh cũng ít có khả năng xảy ra: năm 1947 là thời điểm then chốt cho cái diễn tiến bất ngờ này.
Ngay khi “cơn sốt Kafka” vừa bắt đầu càn quét nước Mỹ thời hậu chiến, có những dấu hiệu mơ hồ cho thấy vị tác gia người Prague bị lãng quên này dường như cũng đang được hưởng một cuộc phục hưng bằng tiếng Czech trên chính thành phố quê hương ông. Nhưng đúng lúc ấy, vào tháng hai năm 1948, Đảng Cộng Sản nắm quyền kiểm soát Tiệp Khắc và Kafka bị cho là tàn dư nguy hiểm của giới tư sản suy đồi ở Prague trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến, đồng thời là biểu tượng thối nát của chủ nghĩa hiện sinh thời hậu chiến được du nhập từ nước ngoài vào. Các tác phẩm của ông bị cấm lưu hành trong gần một thập kỷ.
Dù Kafka dần dần được “tái hòa nhập cộng đồng” từ sau năm 1956, tác phẩm của ông lại một lần nữa bị cấm sau khi quân Xô Viết tràn vào Tiệp Khắc năm 1968. Với nhiều trí thức Mỹ, có một điều mỉa mai thú vị rằng dù Kafka được truyền bá ở Mỹ như một nhà văn của những câu truyện ngụ ngôn chống toàn trị, tác phẩm của ông lại bị cấm ngay trên quê nhà. Đến thập kỷ cuối của Chiến tranh lạnh, hình ảnh Kafka như một nhà văn chống đối mẫu mực chiếm trọn hình dung của giới văn chương ở cả Mỹ và Tiệp.
Nhưng hồi năm 1947, không phải ai cũng đồng thuận về Kafka. Wilson viết trong một bài bình luận năm đó rằng “nghiêm túc mà nói, tôi không thể nào coi ông ấy là một nhà văn lớn được và chưa bao giờ thôi kinh ngạc trước số lượng người có thể nghĩ như thế.” Theo ông quan sát, kể từ Thế chiến hai, danh tiếng của Kafka đã nổi lên ở Mỹ như một “hiện tượng khí tượng”. Tuy vậy bản thân Wilson vẫn chưa bị thuyết phục.
Khi bài viết “Quan điểm trái chiều về Kafka” của Wilson đăng trên New Yorker vào mùa hè năm 1947, ông vẫn là một trong những nhà phê bình văn học có ảnh hưởng nhất tại Mỹ. Chỉ trong mấy năm sau, ông cũng trở thành nhà phê bình thẳng thắn nhất về các vấn đề chính sách ngoại giao của Mỹ trong thời kỳ đầu Chiến tranh lạnh. Dù rằng Wilson ngày càng xa rời bạn hữu trí thức có tư tưởng khai phóng ở Mỹ thời hậu chiến, cách đọc Kafka trái chiều của ông có thể giúp chúng ta hiểu được vì sao và bằng cách nào Kafka trở thành nhân vật trung tâm trong trao đổi văn hóa giữa các nhà văn Mỹ và các nhà văn Tiệp bất đồng chính kiến trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh.
Chắc chắn Wilson hiểu được vì sao những câu truyện giả tưởng kỳ quái của Kafka lại có được “sự công nhận” lớn như thế ở châu Âu “dưới thời cai trị của Nazi và Xô Viết”. Chỉ một thập kỷ sau khi Kafka qua đời năm 1924, “nhiều người bị bắt và bị kết những tội chẳng liên quan gì đến các chuẩn mực đạo đức hay luật pháp thông thường, hoặc bị lôi từ nơi này đến nơi khác để lao động hoặc để chiến đấu theo lệnh của hết chính phủ này đến chính phủ nọ đều cùng một ruộc vô nhân tính khước từ mọi thỉnh cầu, mà họ chẳng hề có sức mạnh để bất tuân hay trí tuệ để hiểu và phá hủy chúng.”
Kỳ thực, Wilson đã rất mừng trước tin ấn bản tuyển tập các tác phẩm của Kafka ấp ủ đã lâu “bắt đầu từ Berlin dưới thời Hitler và chỉ kết thúc ở Prague ngay trước khi Đức chiếm đóng Tiệp Khắc”, đã được “cứu vớt khỏi đám đổ nát của nền văn hóa Trung Âu và phát hành ở Mỹ.” Điều mà Wilson phản đối là “nhóm tôn sùng Kafka” thời hậu chiến, một tập hợp các nhà văn và nhà phê bình có ý thức hệ rất đa dạng, từ W.H. Auden đến Austin Warren, đóng góp nhiều tác phẩm như The Kafka Problem và A Kafka Miscellany. Đến năm 1947, ngay cả tạp chí bảo thủ Time cũng bắt đầu té nước theo mưa Kafka. Wilson lo ngại rằng với sự chú ý quá mức, những diễn giải đủ loại chẳng liên quan gì đến nhau, độc giả Mỹ sẽ trở nên “thừa mứa và u mê”.
Tuy vậy, đến cuối những năm 1940, một sự đồng thuận về mặt phê bình Kafka dần dần hình thành ở Mỹ. Cùng năm Wilson đăng bài “Quan điểm trái chiều về Kafka”, tờ Partisan Review đăng một tiểu luận của James Burnham có tên “Những quan sát về Kafka”. Trong bài điểm của mình về các ấn phẩm liên quan đến Kafka mới phát hành, Burnham vạch ra một lý thuyết rất hữu ích cho thấy cách mà một “nhà văn mới và có vẻ độc đáo” như Kafka bị đồng hóa vào “các cấu trúc chức năng của giá trị và phân loại” thuộc một nền văn chương khác:
“Quá trình hấp thu văn hóa này cũng như mọi trường hợp khác, liên quan đến làn sóng mở rộng độc giả cho nghệ sĩ mới. Ban đầu chỉ có một vài người bạn, sau đó rải rác xuất hiện những người ngoài sẵn lòng đón chào sự xuất hiện lần đầu của nghệ sĩ trước công chúng. Vài người trong số bè bạn và người ngoài này không hài lòng với việc chỉ được công nhận suông. Tin tức phải được lan truyền, cơn sốt bắt đầu sôi xình xịch. Nhóm tiền phong được cảnh báo, các tạp chí nhỏ đăng bài và bình luận, một nhóm nhỏ hình thành. Đâu đó một giáo sư sửa lại bài giảng, còn một nhà xuất bản bán chuyên thì quyết định mạo hiểm chút. Người ta có thể cảm nhận được cơn rúng động ở khắp năm châu, những trò bắt chước ăn theo bộc lộ khả năng xu nịnh đáng kể của nó,[10] và với công chúng, nếu không diện kiến được nguyên bản thì cũng đành quen với những nhận xét tham khảo mang tính xu thời và với những công cụ vay mượn dành cho thị trường đại chúng.
Điều Burnham không đề cập đến là Partisan Review chính là một “tạp chí nhỏ” đã mất nhiều công nhất tạo nên danh tiếng cho Kafka ở Mỹ, và Burnham giờ trở thành một phần trong nhóm nhỏ của họ.
Sự thăng tiến của Burnham—từ một người theo chủ nghĩa Trotsky biến thành con diều hâu thời Chiến tranh lạnh, được nhớ đến chủ yếu qua lý thuyết về “chủ nghĩa toàn trị quản trị” - vào được ban biên tập của Partisan Review vào cuối những năm 40 là một dấu hiệu cho thấy tờ tạp chí cuối cùng cũng quay lưng khỏi thuyết Marxist cấp tiến trong những năm 30 để chuyển sang một hình ảnh mới và có tầm ảnh hưởng là chủ nghĩa chống cộng về mặt văn chương. Phần đa những diễn giải chính trị về các tác phẩm của Kafka cũng đi theo con đường tương tự như tờ Partisan Review ở Mỹ, chuyển từ chủ nghĩa cấp tiến văn chương giai đoạn giữa hai cuộc chiến sang sự đồng thuận chủ nghĩa hiện đại khai phóng của thời Chiến tranh lạnh giai đoạn đầu.
Cách đọc Kafka trái chiều của Wilson không khớp cho lắm vào mô hình của Burnham. Cũng như các biên tập viên của tờ tạp chí, Wilson là thành viên phe Cánh tả chống Stalin, nhưng đến cuối năm 1930, ông trở thành “kẻ bất đồng với mọi hình thức bất đồng được tổ chức sẵn”. Cách đọc Kafka của ông, tương tự như vậy, cũng rất riêng biệt. Gạt hết những diễn giải tôn giáo trước đó về tác phẩm của Kafka, Wilson cho rằng một câu truyện Kafka điển hình nên được đọc “không phải như truyện ngụ ngôn khai trí về mối quan hệ giữa Chúa và người mà như một truyện châm biếm theo kiểu Marx pha trộn Flaubert về đời sống ký sinh của giai cấp tư sản”.
Qua việc quảng bá cho ý tưởng Kafka như một cầu nối tiềm năng giữa quan điểm chính trị cách mạng của Marx và sự cách tân hình thức theo kiểu của Flaubert, Wilson thực ra đã mang cách đọc cấp tiến mà nay đã bị lãng quên từ những năm 30 sang thời Chiến tranh lạnh. Công thức theo kiểu Marx pha trộn Flaubert của ông là lời từ chối rõ ràng đối với những đường biên mới giữa chủ nghĩa hiện đại trong văn học và chính trị cánh tả, kiểm soát nghiêm ngặt bởi các biên tập viên của Partisan Review. Viết vào thời điểm căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Liên Xô, Wilson sắc bén chỉ ra rằng Kafka nên được đọc như một người thừa kế của cả Edgar Allan Poe và Nikolai Gogol, các nhà chống chủ nghĩa hiện thực vĩ đại của văn chương Mỹ và Nga thế kỷ 19.
Tuy nhiên điều khác biệt của Kafka so với hai nhà văn trên là ở chỗ Kafka không thuộc về quốc gia nào; theo Wilson, sau khi chết đi thì Kafka đã “bị tước đoạt quốc tịch, bị làm cho chán nản, bị làm cho mất thiện cảm, bị vô hiệu hóa.” Hình ảnh Kafka như một nhà văn bị “tước đoạt quốc tịch”, vốn đã có sẵn về mặt hình tượng đối với các nhà văn và trí thức bất tuân ở cả hai phía của cuộc chia cắt Chiến tranh lạnh đang dần thành hình, giúp biến tác phẩm của Kafka thành một nguồn lực trung gian hòa giải trong trao đổi văn chương giữa hai bên qua Bức màn sắt.
Trong bài “Quan điểm trái chiều”, Wilson dự đoán rất đúng rằng “các tiểu thuyết của Kafka đã khai thác mạch chính của hài kịch và cảm xúc chủ đạo đối với nỗ lực vô vọng, điều này chính là cái nhiều khả năng sẽ biến “Kafka-esque” (theo kiểu Kafka) trở thành một từ vĩnh viễn được sử dụng thường xuyên.” Từ điển tiếng Anh Oxford (OED) ghi nhận Wilson là người đầu tiên dùng từ “Kafka-esque” trên ấn bản in—dù không phải trong tiểu luận của ông về Kafka. Vài tháng trước khi xuất bản “Quan điểm trái chiều”, Wilson đã điểm cuốn hồi ký của George Grosz, một nghệ sĩ Đức nổi tiếng theo chủ nghĩa Dada trốn khỏi Berlin vào năm 1933, chỉ vài tuần trước vụ cháy tòa nhà Quốc hội Reichstag.
Trong bài điểm sách, Wilson miêu tả lại cách mà Grosz “cảm thấy áp lực của nền chuyên chế lơ lửng trên đầu, và cảnh báo, ông nói, về một cơn ác mộng theo kiểu Kafka (Kafka-esque) của những ngõ cụt, những vụ bức hại vụng trộm và trận bệnh dịch cá bốc mùi hôi thối, bèn quyết định dời sang Mỹ”. Nhưng Wilson không phải là người nghĩ ra từ đó. “Kafka-esque,” ban đầu có dấu gạch ngang lần đầu xuất hiện tròn chín năm trước đó trên tờ tạp chí cộng sản Mỹ New Masses. Người nghĩ ra từ này là nhà thơ chủ nghĩa xã hội Cecil Day-Lewis, thành viên của nhóm Auden, trong bài tường thuật về thế hệ mới nổi các nhà văn Anh cấp tiến tìm kiếm những mô hình văn chương mới giúp họ vượt ra khỏi những hạn chế về mặt hình thức của văn hư cấu vô sản và vượt qua cả những mâu thuẫn với xuất thân tư sản của họ. Trong những năm 30, nhiều nhà văn cánh tả khắp thế giới nói tiếng Anh đều cùng hướng tới Kafka.
Nhưng ngay cả khi từ Kafkaesque là phát minh của một người làm văn chương theo cánh tả trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến, thuật ngữ ấy bước vào thời Chiến tranh lạnh lại mang hơi hướng chính trị chống toàn trị. Ý nghĩa thứ hai của từ này trong OED được ghi sau miêu tả của Wilson về cơn ác mộng của Grosz đến từ nhà văn người Anh gốc Hungary Arthur Koestler, trước là thành viên Đảng Cộng sản sau trở thành người đi đầu chống Stalin vào cuối những năm 40.
Trong cuốn hồi ký Invisible Writing xuất bản năm 1954, Koestler giải thích về sự thay đổi quan điểm chính trị của mình, miêu tả những phiên tòa dàn dựng ở Moscow dần dần hé lộ “mẫu hình kỳ quái theo kiểu Kafka ra với thế giới đầy hoài nghi”. Lịch sử kỳ lạ của từ Kafkaesque, từ New Masses và cơn ác mộng của George Grosz đến sự quan điểm trái chiều của Wilson và Invisible Writing là lời nhắc nhở rằng cách đọc Kafka thời Chiến tranh lạnh như một nhà văn chống toàn trị xuất phát từ phe cánh Tả vốn đã rạn nứt trong giai đoạn giữa hai cuộc chiến và cuộc xung đột của nó với thế hệ nhà văn, nghệ sĩ, trí thức di cư chạy trốn khỏi Trung Âu hoang tàn sau chiến tranh.
(Nguồn: https://lithub.com/how-franz-kafka-achieved-cult-status-in-cold-war-america/, trích đoạn trong cuốn The Nonconformists: American and Czech Writers Across the Iron Curtain của Brian K. Goodman, NXB Đại học Harvard, 2023)
AI AI CŨNG MUỐN MỘT MẨU KAFKA, DÙ ÔNG CHẲNG MUỐN THUỘC VỀ KẺ NÀO
Benjamin Balint
T. dịch
Trong cuốn tiểu thuyết ngắn The Prague Orgy của Philip Roth, một nhà văn người Séc có nói: “Khi nghiên cứu Kafka, tôi thấy số mệnh những cuốn sách của ông trong tay đám các nhà Kafka học có vẻ còn quái gở hơn cả số mệnh của Josef K.” Cũng như thứ văn xuôi vừa đòi hỏi vừa từ chối diễn giải của Kafka, có điều gì đó trong di sản của ông vẫn luôn vừa mời gọi vừa kháng cự quyền sở hữu.
Dù có được khả năng thấu thị đáng kinh ngạc về sự độc ác phi cá nhân của bộ máy quan liêu và sự tha hóa đến cùng cực của đời sống đương thời, Kafka chẳng thể ngờ được sau khi ông qua đời có bao nhiêu kẻ ái mộ sẽ đọc và đọc sai những cuốn sách hư cấu khó hiểu của ông, cũng chẳng hay biết trong vòng một thế kỷ từ ấy sẽ có bao người thừa kế triển vọng muốn vơ lấy ông về mình.
Cuộc tranh giành bắt đầu dậy sóng gần như ngay từ khi Kafka qua đời vì bệnh lao vào một ngày tháng Sáu tròn một trăm năm trước, chỉ một tháng trước sinh nhật tuổi 41 của ông. Max Brod —người bạn thân, kẻ phản bội lời di nguyện của Kafka rằng hãy đốt cháy hết sạch bản thảo, biên tập viên độc đoán của những tập nhật ký và tiểu thuyết dở dang của Kafka và cũng là tác giả cuốn tiểu sử đầu tiên về Kafka — gọi ông là “vị thánh” thời hiện đại với những truyện kể và truyện ngụ ngôn “nằm trong số những văn bản có tính Do thái điển hình nhất thời đại chúng ta”.
Trong số những độc giả mộ đạo của các cuốn tiểu thuyết được Brod xuất bản (Vụ án năm 1925, Lâu Đài năm 1926 và Nước Mỹ năm 1927), những dịch giả Anh ngữ đầu tiên của Kafka, Edwin và Willa Muir, đã trình hiện ông như một nhà phúng dụ chuyên giảng về ân điển Chúa Cơ đốc. (Trong tiếng Đức, “Die Verwandlung,” tiêu đề cuốn sách của Kafka về cuộc hóa thân của Gregor Samsa thành một loài côn trùng, cũng bao hàm nghĩa “hiển dung”.)
Ngay từ năm 1947, Edmund Wilson đã cảnh báo trước rằng mọi sự thánh hóa này rồi sẽ khiến những độc giả của Kafka thành ra “thừa mứa và u mê”. Dù vậy, cơn sốt Kafka vẫn không thôi xình xịch. Vào những năm 60, các nhà hiện sinh diễn giải Kafka như một người tiền trạm, tràn đầy nỗi xao xuyến hiện sinh, nhìn thẳng vào vực thẳm phi lý mà hỏi rằng — cũng như Josef K. đã hỏi trong đoạn áp chót cuốn Vụ án — “Đâu là viên quan tòa mà anh chưa từng gặp?” Simone de Beauvoir cho rằng Kafka “đã hé lộ cho chúng ta những vấn đề của chính mình, đứng trước một thế giới dù Chúa không tồn tại nhưng cuộc cứu rỗi linh hồn ta vẫn đứng bên bờ nguy hiểm”.
Các nhà phân tâm học thì cho rằng tác giả của những truyện như “Trại lao cải” và “Nghệ sĩ nhịn đói” là vị sứ giả loạn thần kinh của cái dị thường hay “thi sĩ của mặc cảm và tội lỗi” thích tự hành hạ bản thân (như tiêu đề phụ cuốn tiểu sử về Kafka của Saul Friedländer). Các nhà chủ nghĩa hiện đại thì nhận vơ Kafka không phải như bệnh nhân cần chẩn đoán mà như một nhà văn nhận thức rất mực chính xác cơn suy sụp khó lý giải của những tư tưởng ta được kế thừa rộng rãi trong xã hội. W. H. Auden nói: “Nếu cần gọi tên người nghệ sĩ gần gụi nhất với thời đại chúng ta như Dante, Shakespeare hay Goethe với thời đại của họ, Kafka sẽ là cái tên ta nghĩ đến đầu tiên.”
Những người khác thì lôi Kafka vào các mục tiêu chính trị này nọ, quái dị nhất là khi ông bị chế thành một thứ vũ khí cho Chiến tranh lạnh. Trong bài phát biểu ở Moscow năm 1962, Jean-Paul Sartre cảnh báo về việc “quân đội hóa” văn hóa, ví Kafka với “quả lựu đạn trong thư viện” hay một thùng thuốc nổ bị lôi đi lôi lại từ Đông sang Tây. Sartre nói “Ganh đua văn hóa thực sự thì phải đặt ra thách thức có tính hòa bình chủ nghĩa này: Kafka thuộc về ai, anh hay tôi; điều ấy nghĩa là trả lời câu hỏi, ai là người hiểu ông nhất?”
Các nhà phê bình Liên Xô liệt Kafka làm đồng minh của họ, một cá nhân có phẩm giá dám dũng cảm đối mặt với hệ thống tư bản, trong khi các nhà bất đồng chống cộng thì biến ông thành kẻ thù của thói quan liêu kinh hoàng dưới các chế độ toàn trị. Vào năm 1954, rất lâu trước khi tên tuổi của tác gia này trở thành cái tính từ khuôn sáo xuất hiện khắp nơi, Arthur Koestler đã bình phẩm những phiên tòa dàn dựng ở Moscow là “Kafkaesque”. Hai năm sau, khi xe tăng Liên Xô càn quét cuộc nổi dậy của người Hungary, nhà phê bình văn học Mác-xít György Lukács bị bắt giữ ở Budapest, bị giam trong một tòa lâu đài ở Romani và bị tước quyền nghe lời phán quyết chứ đừng nói tới chuyện kháng cáo. “Vậy ra sau cùng Kafka đúng là nhà hiện thực,” ông tuyên bố.
Chương mới hơn trong câu chuyện về cuộc đời sau khi chết đầy tranh cãi của Kafka liên quan đến những người cố sức gắn cái “chúng ta” dân tộc với tên tuổi của ông. Bắt đầu từ năm 2007, cuộc chiến đòi quyền lưu giữ những tập bản thảo của Kafka mà Brod khó khăn lắm mới cứu vớt được khỏi cuộc xâm chiếm của Nazi trên đất Prague đã tiến hành ở tòa án Israel suốt chín năm ròng. Vụ kiện này có thể được coi như lời bình cho một câu hỏi duy nhất: Nhà văn này — thành viên của cộng đồng thiểu số Do Thái trong cộng đồng thiểu số nói tiếng Đức trong cộng đồng thiểu số dân tộc Séc trong Đế quốc Áo Hung hỗn tạp — thuộc về nền văn học Đức hay thuộc về nhà nước vẫn coi mình là đại diện cho người Do Thái tất thảy mọi nơi?
Một bên là Thư viện Quốc gia Israel, đã chiêu mộ Kafka như một nhà văn Do Thái, bất chấp thái độ mâu thuẫn của ông trước chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Israel tự coi mình như mái nhà hợp pháp của mọi sản phẩm văn hóa trong cộng đồng người Do Thái lưu vong, điểm đến chính đáng cuối cùng cho mọi câu chuyện bất kể bắt đầu nơi đâu. Mặt khác, các luật sư của Viện lưu trữ Văn học Đức ở Marbach lý luận rằng bản thảo của Kafka thuộc về nước Đức vì ngôn ngữ ông dùng là tiếng Đức — “những dòng văn tiếng Đức thuần khiết nhất thế kỷ”, trích lời Hannah Arendt.
Khi tôi tham dự phiên tòa tại Tòa án Tối cao Israel vào mùa hè năm 2016, có một điều dường như rõ như ban ngày: việc người Đức đòi quyền chiếm hữu một nhà văn mà gần như cả gia đình bị tàn sát trong thảm kịch Shoah bện xoắn với nỗ lực của đất nước ấy muốn vượt qua nỗi nhục của mình. Có lẽ một số người Đức hy vọng rằng việc nhận Kafka về phía mình — như một người Do Thái bảo hộ văn chương Đức, và như một người Do Thái may mắn qua đời trước khi rơi vào tay Nazi — có thể giúp họ vượt qua điều ấy. Đến đây lại ẩn tàng một điều trớ trêu: Một nhà văn nâng việc tự kết tội lên tầm nghệ thuật lại trở thành một công cụ để tự giải tội, để bôi xóa thay vì đối mặt với quá khứ. (Phán quyết của Tòa án Tối cao nghiêng về phía Thư viện Quốc gia Israel.)
Những sinh viên người Palestine mà tôi cùng đọc Kafka không hề bận tâm đến những câu hỏi về quyền sở hữu văn hóa. Khi đọc Vụ án trong khóa học tôi dạy ở Đại học Brad phía Đông Jerusalem, các sinh viên đã mê mải ngay từ câu mở đầu: “Hẳn ai đấy đã vu khống Josef K. nên một buổi sáng nọ anh bị bắt, dù chẳng làm gì sai quấy.”
Một sinh viên so sánh cuốn sách này với The Shell của Mustafa Khalifa, cuốn tiểu thuyết (xuất bản ở Mỹ năm 2023) dựa trên sự kiện tác giả bị tống giam 13 năm không qua xét xử ở Syria. Người khác thì tìm thấy ở cuộc truy tìm công lý vô vọng của Josef K. một hệ từ vựng mới mẻ giúp cô diễn đạt những nỗ lực pháp lý kéo dài hàng chục năm của gia đình mình để khỏi bị đuổi khỏi ngôi nhà họ sinh sống từ đầu những năm 50, một căn hộ hai phòng ngủ ở khu Hồi giáo trong khu phố cổ Jerusalem. Căn nhà thuộc về một quỹ tín thác Do Thái trước khi nước Israel thành lập năm 1948 nên nhà nước cho rằng quyền sở hữu phải trả lại cho những người ủy thác của Quỹ.
Cũng như phiên tòa về các bản thảo của Kafka, kháng cáo của gia đình cuối cùng cũng sẽ bị mang ra cho Tòa án tối cao phán quyết. Cô sinh viên nói rằng “Trong Vụ án, mình chẳng bao giờ được trắng án. Gia đình em cũng vậy, chỉ có thể hy vọng sẽ trì hoãn được việc bị đuổi đi, trì hoãn, trì hoãn, trì hoãn.” Đối với các độc giả trẻ này, Kafka đã dựng nên một thế giới không hề siêu thực mà là cực thực.
Tôi chợt nhận ra rằng những độc giả đến gần nhất với cốt lõi nhãn quan độc đáo của Kafka là những người nhận ra sự mỉa mai của việc tìm cách chiếm hữu một nhà văn rất mực trung thành với sự không-thuộc-về của mình, rất cẩn thận xếp đặt nhân vật — những người chống lại uy quyền, dù là của thần thánh, nhà nước hay các bậc phụ huynh — không trong một thời gian hay không gian cụ thể nào. Trong bức thư gửi vị hôn thê Felice Bauer, Kafka có nói về “nỗi khát khao vô bờ bến được tự do và độc lập trên mọi phương diện.” Bất chấp tình cảm sâu sắc với các vở kịch viết bằng tiếng Yiddish và với ngôn ngữ Hebrew, nỗi khao khát ấy đã nhổ rễ cho ông khỏi mọi cảm giác thuộc về một tập thể và cởi dây cho trí tưởng tượng của ông căng buồm vượt xa khỏi mọi điển phạm của bất kỳ dân tộc nào, “chỉ tuân theo”, theo lời ông nói, “những quy luật chuyển động của riêng mình.”
Chúng ta chỉ có thể tự hỏi liệu cảnh tượng tranh giành xâu xé di sản nghệ thuật của ông trong cả một thế kỷ liệu có thể mua vui cho nhà văn ít đòi sở hữu nhất thiên hạ này hay chăng. “Mọi thứ tôi sở hữu đều bị dùng chống lại tôi”, Kafka thừa nhận điều này với Brod, “mà thứ gì chống lại tôi thì chẳng còn là của tôi nữa.”
Nguồn: https://www.nytimes.com/2024/05/23/books/review/franz-kafka-death-centennial-legacy.html
[1] Civilian Swimming School: một khu nghỉ dưỡng nhỏ được xây dựng tại Prague vào năm 1840, ngoài hồ bơi còn có khu nhà hàng và khu tổ chức hòa nhạc cho khách. Xem thêm tại https://archiv.radio.cz/en/static/kafka/9place.
[2] Tên thánh của Kafka.
[3] DER PROZESS và IN DER STRAFKOLONIE (Lưu ý là các tác phẩm nhắc đến trong bài này có thể đã được dịch nhiều lần sang tiếng Việt và mang nhiều tên khác nhau, do đó người dịch bổ sung tên bản gốc.)
[4] L’ÉTRANGER: tiểu thuyết của Albert Camus.
[5] Tác giả nhấn mạnh: “gefangen” trong bản thảo là “bị bắt” (như nhiều bản dịch tiếng Việt, ví dụ của Lê Chu Cầu), thực ra đã được Kafka sửa cho mạnh hơn là “bị tống giam” (“verhaftet”.)
[6] DIE VERWANDLUNG.
[7] DER VERSCHOLLENE, sau này được Max Brod xuất bản với tên AMERIKA (bản dịch tiếng Việt: “NƯỚC MỸ”.)
[8] RICHARD UND SAMUEL: tác phẩm chung của Franz Kafka và Max Brod, thất bại ngay sau chương đầu vì sự dị biệt lớn giữa hai cây bút.
[9] Felix Bauer (1887-1960) là vợ chưa cưới đầu tiên của Kafka. Kafka đã tặng bà truyện LỜI TUYÊN ÁN (DAS URTEIL) xuất bản năm 1913 (phụ đề: Một truyện dành cho Felice B.). Ông viết hơn 500 bức thư và bưu thiếp khi bà sống ở Berlin. Những bức thư của Felice Bauer gửi cho Kafka sau đó đã bị ông tiêu hủy. Sau khi Franz Kafka và Felice Bauer hai lần đính hôn, cuối cùng họ chia tay hẳn vào năm 1917.
[10] Lấy ý từ câu của Oscar Wilde: “Bắt chước là hình thức xu nịnh chân thành nhất mà kẻ tầm thường có thể dành cho người vĩ đại.”






ba bài dưới cùng hay thật ạ ❤️❤️❤️
Em đã đọc xong 🥰🥰🥰